6 bệnh thận phổ biến

829

Khi mắc bệnh thận, người bệnh thường có triệu chứng đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn, có thể kèm theo sốt. Đa số người mắc bệnh thận sẽ bị phù toàn thân, từ mí mắt xuống bàn chân, da trắng nhạt. Sự thay đổi màu sắc và độ trong của nước tiểu cũng là một biểu hiện của bệnh thận. Vậy những bệnh thận phổ biến là những bệnh nào? Triệu chứng cụ thể của bệnh ra sao? Bạn có thể tham khảo những thông tin dưới đây:

Khi mắc bệnh thận, người bệnh thường có triệu chứng đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn, có thể kèm theo sốt.
Khi mắc bệnh thận, người bệnh thường có triệu chứng đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn, có thể kèm theo sốt.

Bệnh sỏi thận

Khi bị bệnh sỏi thận và sỏi đường tiết niệu, người bệnh thường có triệu chứng đái khó, đái buốt, đái rắt, màu sắc nước tiểu thay đổi (đục, đỏ…), lượng nước tiểu ít, đau vùng thắt lưng, có thể sốt hoặc không sốt… Nguyên nhân gây sỏi thận là do rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, đặc biệt lượng canxi trong nước tiểu tăng do chế độ ăn uống thừa canxi, rối loạn chuyển hóa tuyến nội tiết và tuyến cận giáp trạng. Một nguyên nhân phổ biến nữa gây sỏi thận là do viêm nhiễm đường tiết niệu.

Viêm thận

Là tình trạng viêm thường gặp do nhiễm khuẩn hoặc do ngộ độc thuốc, hóa chất. Các vi khuẩn gây bệnh thường là Enterobacter, E.Coli, Proteur… Viêm thận được chia thành hai dạng, đó là viêm cầu thận cấp tính và viêm cầu thận mạn tính. Viêm cầu thận cấp tính là bệnh hay gặp ở trẻ em từ 2 – 15 tuổi. Nguyên nhân do nhiễm liên cầu khuẩn hay do các ổ nhiễm khuẩn bội nhiễm. Điều kiện vệ sinh kém là hoàn cảnh thuận lợi gây bệnh. Viêm cầu thận mạn tính là biến chứng của viêm cầu thận cấp, thường gặp ở người lớn.

Khi bị bệnh sỏi thận và sỏi đường tiết niệu, người bệnh thường có triệu chứng đái khó, đái buốt, đái rắt, màu sắc nước tiểu thay đổi (đục, đỏ…),
Khi bị bệnh sỏi thận và sỏi đường tiết niệu, người bệnh thường có triệu chứng đái khó, đái buốt, đái rắt, màu sắc nước tiểu thay đổi (đục, đỏ…),

Suy thận

Suy thận xảy ra khi thận không đủ sức thải bỏ mọi cặn bã khiến các chất độc hại và dịch dư thừa đọng lại trong cơ thể. Căn cứ vào các chỉ số albumin, creatinin, ure, protein… qua xét nghiệm nước tiểu sẽ biết được tình trạng bệnh của thận. Có 3 thể suy thận đó là suy thận cấp tính, mạn tính và suy thận giai đoạn cuối.

Suy thận cấp tính hầu hết là do giảm thể tích máu khiến thận không thực hiện được chức năng bài tiết và điều hòa nước. Suy thận mạn tính khi độ thanh thải creatinin xuống dưới 40ml/phút. Đây là những bệnh ống thận – mô kẽ mạn tính. Trong suy thận mạn tính, một số trường hợp bệnh nặng cần phải chạy thận nhân tạo hay ghép thận để duy trì sự sống. Đây cũng chính là giai đoạn cuối của bệnh suy thận.

Viêm ống thận cấp

Thường là do ngộ độc chì, thuỷ ngân, sunfamit khiến người bệnh không đi tiểu, urê máu cao, nước tiểu có protein, nhiều hồng cầu, bạch cầu trụ hình hạt. Một số chất khác gây viêm ống thận nhiễm độc chẳng hạn như asen, tetraclorua, axit oxatic, phosphocacbon, axit clohydric, axit nitric, cantarit, pyramydon naptol, clorofoc, vitamin D2.

Suy thận xảy ra khi thận không đủ sức thải bỏ mọi cặn bã khiến các chất độc hại và dịch dư thừa đọng lại trong cơ thể
Suy thận xảy ra khi thận không đủ sức thải bỏ mọi cặn bã khiến các chất độc hại và dịch dư thừa đọng lại trong cơ thể

Bệnh thận nhiễm mỡ

Khi thận bị nhiễm mỡ, người bệnh sẽ thấy bị phù rất đột ngột hoặc bị phù sau nhiễm khuẩn thông thường chẳng hạn như viêm họng. Để điều trị cần kết hợp với chế độ ăn hạn chế muối, ít nước, nhiều vitamin và tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. Sử dụng các thuốc nhóm corticoid đúng cách theo liều lượng cân nhắc để tránh biến chứng hoặc tác dụng phụ của thuốc.

Hội chứng thận hư

Bệnh xảy ra khi các tác nhân gây bệnh lắng đọng ở cầu thận. Nhiều khi hội chứng thận hư có nguyên nhân từ việc dùng thuốc không đúng liều lượng. Khi ngừng thuốc, cầu thận có thể trở lại bình thường.

 

Chia sẻ